Năm 1857, Hoàng đế Pháp Napoléon III đã thành lập Ủy hội Nghiên cứu Nam Kỳ (Commission de la Cochinchine) gồm nhiều nhân vật thông thạo vùng Viễn Đông. Ủy hội này bày tỏ ý kiến nước Pháp phải chiếm cứ ba thương cảng Gia Định, Đà Nẵng, Hà Nội để có lợi cho Pháp trên cả 3 phương diện tinh thần, chính trị và thương mại. Napoléon III đã tán thành ý kiến của Ủy hội. Đầu năm 1858, Đô đốc Charles Rigault de Genouilly tiến quân để đánh chiếm Đà Nẵng để buộc triều Nguyễn phải chấp nhận cho các nhà truyền đạo Pháp độc quyền giảng đạo tại Đại Nam. Người Pháp tin là mục tiêu sẽ đạt được khi Đà Nẵng thất thủ, sau đó thì tùy vị Đô đốc toàn quyền quyết định các quan hệ với nhà Nguyễn. Chính sách của Pháp lúc này chỉ dừng lại ở việc chiếm 1 căn cứ dành cho việc thương lượng.
Đô đốc Pierre-Louis-Charles Rigault de Genouilly (12 tháng 4 năm 1807 - 4 tháng 5 năm 1873) là một sĩ quan hải quân Pháp. Ông đã chiến đấu lẫy lừng trong Chiến tranh Krym và Chiến tranh nha phiến lần thứ hai, nhưng ngày nay người ta vẫn nhớ đến ông vì chỉ huy các lực lượng Pháp và Tây Ban Nha trong giai đoạn mở đầu của chiến dịch Nam Kỳ (1858–1862), mở đầu cuộc chinh phục Việt Nam của Pháp.
Từ chiều ngày 31/8/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã kéo tới dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng (Quảng Nam). Kế hoạch của địch là đánh nhanh thắng nhanh để chiếm lấy Đà Nẵng làm căn cứ bàn đạp, từ đó đánh vào nội địa, tiêu diệt sinh lực của triều đình Huế tại đây, rồi vượt đèo Hải Vân đánh thọc sâu lên Huế bóp chết sức kháng chiến của phong kiến triều Nguyễn tại chỗ và buộc chúng phải đầu hàng. Mờ sáng hôm sau (1/9/1858), chúng đã cho người đưa tối hậu thư buộc Trần Hoàng phải trả lời trong vòng hai giờ. Không đợi hết hạn, chúng đã ra lệnh cho tàu chiến bắn đại bác lên các đồn Điện Hải, An Hải của triều đình suốt trong ngày hôm đó. Tiếp sau, chúng cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà.
Chọn Đà Nẵng làm mục tiêu tấn công đầu tiên, tư bản Pháp nhằm đạt mấy mục đích sau: cửa biển nơi đây tương đối sâu rộng nên tàu chiến chúng có thể ra vào dễ dàng, hậu phương Quảng Nam giàu có và đông dân có thể giúp chúng thực hiện khẩu hiệu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, trông chờ vào sự ủng hộ của giáo dân vùng này mà bọn gián điệp đội lốt giáo sĩ hoạt động trong đất liền đã báo cáo là khá mạnh.
Được tin mất bán đảo Sơn Trà, triều đình Huế vội phái nhiều quân tướng tới tăng cường lực lượng phòng thủ. Nguyễn Tri Phương được cử làm tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam để lo việc chống giặc. Nhưng ông không chủ động tấn công tiêu diệt địch, mà chỉ huy động quân dân đắp luỹ chạy dài từ bờ biển vào phía trong để bao vây quân địch ngoài mé biển, chặn không cho chúng đi sâu vào nội địa. Còn đối với nhân dân trong vùng thì ông ra lệnh thực hiện vườn không nhà trống tản cư vào bên trong để khỏi bị giặc bắt đi lính, nộp lương thực hay cung cấp tin tức. Mấy lần liên quân Pháp - Tây Ban Nha tìm cách đánh sâu vào đều bị quan quân triều đình đánh bật trở lại và bị thiệt hại khá nặng. Kết quả là sau 5 tháng chiến tranh, chúng hầu như giẫm chân tại chỗ. Trong lúc đó thì khó khăn của chúng mỗi ngày một tăng thêm: do không hợp khí hậu nên binh lính địch bị ốm đau và chết khá nhiều trong khi thuốc men lại thiếu, tiếp tế thực phẩm cho quân lính rất khó khăn. Tiến lui đều khó, cuối cùng tướng giặc Charles Rigault de Genouilly quyết định chỉ để lại Đà Nẵng một lực lượng quân sự nhỏ bé để cầm chân quân đội triều đình, còn lại thì lợi dụng mùa gió bấc kéo vào đánh Gia ĐỊnh (2/1859).
TRẬN ĐÁNH THÀNH GIA ĐỊNH
Âm mưu của địch lần này kéo vào đánh Gia Định so với lúc đánh Đà Nẵng có nhiều điểm khác. Chúng muốn cắt đứt đường tiếp tế bằng cách đánh chiếm Sài Gòn và Nam Kì mà chúng biếtlà kho lúa gạo của triều đình Huế, tránh sự tiếp viện của triều đình Huế mà chúng đã được biết là không phải yếu kém nhu bọn Giáo Sĩ Pháp đã báo cáo, đánh Sài Gòn xong sẽ theo đường sông Cửu Long ngược lên đánh chiếm luôn Cao Miên. Hơn nữa, lúc này tư bản Pháp cần phải hành động gấp vì tư bản Anh sau khi chiếm xong Xingapore và Hương Cảng cũng đang ngấp nghé chiếm Sài Gòn để nối liền hai cửa biển quan trọng trên.
Với mong muốn đánh chiếm nhanh Đà Nẵng, rồi sẽ "giáng cho Huế một đòn quyết định", để có thể làm chủ nước Đại Nam; nhưng ý đồ của Liên quân Pháp và Tây Ban Nha đã không thể thực hiện được, vì vấp phải sự kháng cự của quân và dân triều Nguyễn.
Bị cầm chân ở Đà Nẵng, tướng Charles Rigault de Genouilly buộc phải thay đổi kế hoạch, là rút đi hai phần ba số quân (tức 2000 người) và 8 trong số 14 chiến thuyền ở mặt trận này để vào đánh chiếm Gia Định.
Mặc dù được giáo sĩ Pellerin khuyên nên đem quân ra chiếm Bắc Kỳ, vì ở đó có giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo, và những người tôn phù nhà Lê nổi lên góp sức, nhưng sau khi cân nhắc, tướng De Genouilly không tán thành.[3] Theo thư ngày 29 tháng 1 năm 1859 của viên tướng này gửi Bộ trưởng Hải quân Pháp ở Paris, thì "Sài Gòn nằm trên một con sông mà chiến thuyền của chúng ta dễ vào, và hễ quân lên bộ thì đánh thành ngay, không phải lưng cõng, vai mang, băng đồng mệt nhọc. Sài Gòn lại là một vựa thóc. Nhân dân và binh lính ở kinh thành Huế sống một phần nhờ gạo Sài Gòn. Đến tháng Ba thì thuyền chở thóc gạo, sẽ kéo buồm từ Sài Gòn ra Huế. Chúng tôi quyết chặn thóc gạo đó lại..."
Như vậy, việc Pháp chọn mặt trận thứ hai ở Sài Gòn, cũng không nằm ngoài mục đích muốn chiếm đóng và tìm kiếm lợi lộc từ nước Việt. Và nếu không thể "đánh nhanh, thắng nhanh" ở Đà Nẵng được, thì Sài Gòn quả là một địa bàn thuận lợi hơn Hà Nội, bởi ở đây có một hệ thống sông rạch chằng chịt, nhiều sản vật, nhiều của cải và nhiều lúa gạo nhất Đại Nam. Cho nên, De Genouilly mong muốn chiếm lĩnh Sài Gòn để có thể "vừa lập nghiệp, vừa phòng thủ", "vừa hành binh, vừa lưu thông thương mại dễ dàng". Ngoài việc cắt đứt con đường tiếp tế lương thực cho Huế như đã ghi trên, thực dân Pháp sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để thực hiện ý đồ làm chủ lưu vực sông Mê Kông, và xa hơn nữa là phía Bắc...
Từ nhận định trên, ngày 2 tháng 2 năm 1859, tướng De Genouilly đem số tàu và số quân đã kể trên, tiến vào Nam.
Ngày 10 tháng 2, đại bác Pháp bắn vào Vũng Tàu.
Ngày 11 tháng 2, đoàn tàu chiến Pháp vào sông Cần Giờ. Sau đó, quân Pháp vừa đi vừa tháo gỡ những chướng ngại vật trên sông và triệt phá 12 đồn trại của quân Việt ở hai bên bờ, nên mãi tới chiều 15 tháng 2, quân Pháp mới đến được ụ Hữu Bình. Tức thì, cuộc đấu pháo đã diễn ra dữ dội suốt đêm. Quân Việt dùng thuyền nhỏ chở đầy thuốc súng và rơm khô, định dùng kế hoả công nhưng bị quân Pháp biết, sai người lén đốt trước.
Sáng sớm hôm sau, tức ngày 16 tháng 2, bảy tàu chiến Pháp dàn trận rồi ra sức bắn phá cho đến khi quân Việt phải bỏ chạy và quân Pháp xông lên chiếm được pháo đài. Và ngày hôm sau nữa (17 tháng 2), các tàu chiến Pháp đã có mặt trước thành Gia Định.
Nhờ cho hai tàu nhỏ vào rạch Thị Nghè thám thính, cộng thêm sự chỉ dẫn của giáo sĩ Lefèbvre, nên các sĩ quan Pháp đã hiểu khá rõ lực lượng và cách bố phòng của thành Gia Định.
Sáng sớm ngày 17 tháng 2, tướng De Genouilly cho đại bác trên tất cả các tàu chiến bắn yểm hộ rồi cho một cánh quân đổ bộ. Đội quân ấy đi theo con đường mà sau này (1865), Pháp đặt tên là đường Citadelle rồi dùng chất nổ phá thành. Pháo trên thành bắn xuống tàu đối phương nhưng không mấy hiệu quả. Và khi đánh thủng được cửa Đông, quân Pháp dùng thang cao leo vào thành, thì đôi bên liền xông vào đánh giáp lá cà. Đến khoảng 10 giờ trưa, Hộ đốc Võ Duy Ninh, đang giữ trọng trách trấn thủ thành, ra lệnh lui quân, bỏ lại hầu hết súng đạn, thóc gạo và hơn trăm chiến thuyền gỗ trên sông Thị Nghè.
Chạy đến thôn Phước Lý (thuộc tổng Phước Lộc, huyện Tân Bình xưa) Hộ đốc Võ Duy Ninh và Án sát Lê Từ tự vẫn, còn Đề đốc Trần Trí, Bố chánh Vũ Thực, Lãnh binh Tôn Thất Năng, nhờ sự yểm trợ của đạo quân ứng nghĩa do Lê Huy và Trần Thiệu Chính chỉ huy, nên mang quân chạy về được ụ Tây Thới.
Theo A. Thomazi, trong thành Gia Định lúc này có hơn 2.000 quân với 200 đại bác bằng sắt, bằng đồng, một hải phòng hạm, bảy chiến thuyền, 25.000 kg thuốc súng, tiền bạc trị giá tương đương 130.000 francs, thực phẩm đủ nuôi 8.000 quân trong một năm.
Tuy thắng trận, nhưng thực dân Pháp không đủ quân để giữ thành, không nhận được sự hỗ trợ từ các giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo và luôn bị các đội nghĩa quân ngày đêm bám sát, tìm cách bao vây, nên quân Pháp đã phải quyết định phá hủy thành Gia Định.
Vào ngày 8 tháng 3 năm 1859, tướng De Genouilly cho đặt mấy chục ổ thuốc nổ phá tung nhiều đoạn trường thành, đốt dinh thự kho tàng bên trong, đốt cả thóc lúa. Kể lại vụ việc này, sách Địa chí TP. Hồ Chí Minh, tập I, có đoạn: Kho thóc thành Gia Định cháy mãi hai năm mà khói còn nghi ngút. Hai mươi bốn tháng nắng mưa không làm tắt được đám cháy nào. Quân Pháp cũng cướp giật, đốt luôn nhiều phố xá thương mãi và thôn xóm dân cư. Và nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã ghi: Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuộm màu mây...
Phá tan thành Gia Định xong, De Genouilly chỉ để lại một số quân đóng giữ ở đồn Nam (đồn Hữu Bình), còn bao nhiêu rút hết xuống các tàu chiến. Ngày 20 tháng 4 năm 1859, viên tướng trên giao quyền cho Đại tá hải quân Jauréguibery chiếm giữ Gia Định, rồi lui tàu trở lại mặt trận Đà Nẵng, vì lúc này quân Pháp ở đó đang bị nguy khốn vì thương vong và dịch bệnh...
Nghe tin Gia Định thất thủ, triều đình Huế vẫn chủ trương để đại quân phòng ngự Đà Nẵng, chỉ phái thượng thư bộ Hộ Tôn Thất Hiệp mang 15.000 quân vào đóng ở Biên Hòa". Tổng đốc Long Tường Trương Văn Uyển một mặt gửi sớ về triều đình báo tin thất thủ Gia Định, mặt khác ông cũng triệu tập các trấn thủ khác ở An Giang, Định Tường, Hà Tiên hợp sức chống cự. Tổng đốc Trương Văn Uyển kéo quân tới đồn Lão Sầm, gần chùa Mai Sơn để tấn công nhưng quân Pháp đổ ra bao vây, quân nhà Nguyễn phải lui về cố thủ Vĩnh Long và trong trận này, chủ tướng của quân Nguyễn bị trọng thương. Theo như nhận định của Nguyễn Phan Quang, "một cuộc giải phóng đất nước đã mở ra" nhưng tướng nhà Nguyễn chỉ huy mặt trận Gia Định là Tôn Thất Hiệp lại chủ trương "án binh bất động" để "làm nản lòng địch". Do vậy, thời cơ đánh bật quân xâm lược ra khỏi bờ cõi bị bỏ qua.
![]() |
| Một khẩu đại bác của quân đội Việt ở thành Gia Định xưa, hiện đang được được trưng bày trong khuôn viên Lăng Ông Bà Chiểu tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam. |
Ngày 9/2/1859, hạm đội Pháp đã tập trung đầy đủ ở Vũng Tàu. Sáng hôm sau (10/2/1859), chúng bắt đầu công phá các pháo đài Phúc Thắng, Lương Thiện, Phúc Mĩ, Danh Nghĩa thuộc các tỉnh Biên Hoà, Gia Định, có nhiệm vụ bảo vệ đường thuỷ vào Gia Định. Sau đó, tàu chiến giặc ngược sông Cần Giờ, vừa tiến, vừa bắn phá các đồn hai bên bờ. Tàu Pháp tiến rất chậm, từ cửa Cần Giờ vào đến thành Gia Định (tức Sài Gòn) phải mất 6 ngày, vì vấp phải sức chống cự khá quyết liệt của quan quân triều đình đóng tại các đồn trên bờ và nhiều đập cản giữa lòng sông. Sáng ngày 16/2/1859, địch đổ bộ chiếm được hai pháo đài bảo vệ trực tiếp thành Gia Định và cho tàu ngược sông Bến Nghé vào đậu sát trước mặt thành. Sáng ngày 17/2/1859, tàu chiến địch tập trung hoả lực bắn vào thành, đến trưa thì cho quân đổ bộ đánh thành. Trước sức tấn công mạnh mẽ của địch, trấn thủ Gia Định là Vũ Duy Ninh ra lệnh rút quân, bỏ lại trong thành nhiều súng các loại và lương thực. Chiếm được thành Gia Định, nhưng Giơnuiy lượng sức không đủ giữ thành nên ngày 8/3/1859 quyết định phá thành, rồi rút quân xuống đóng dưới tàu đậu giữa sông để khỏi bị quan quân nhà Nguyễn tập kích. Sau đó, chúng chỉ để lại một số ít quân ở Gia Định, còn lại thì cấp tốc kéo ra tiếp viện cho số quân Pháp đóng tại mặt trận Đà Nẵng, lúc đó đang có nguy cơ bị quân triều đình tiêu diệt.
Ra tới Đà Nẵng, để củng cố tinh thần quân lính, Giơnuiy quyết định mở cuộc tấn công lớn ngày 8/5/1859. Cùng lúc, quân Pháp đánh vào các đồn Điện Hải, Phúc Ninh, Thạch Giản, rồi tiến sâu vào nội địa, buộc quân triều đình phải rút về cố thủ phía sau. Nhưng chúng đã bị tổn thất nặng nên sau đó phải rút về các vị trí cũ, không dám tiến sâu hơn. Quân Pháp ở Việt Nam lúc đó rất khốn đốn. Từ 4/1859, tư bản Pháp bị vướng vào cuộc chiến tranh với Áo trên đất Ý nên phải dồn lực lượng quân sự vào chiến trường châu Âu, không thể tiếp viện cho đội quân xâm lược Việt Nam. Mâu thuẫn Anh - Pháp lúc này cũng trở nên gay gắt, chiến tranh có thể bùng nổ giữa hai nước. Trong tình thế khó khăn đó, chính phủ Pháp buộc phải ra lệnh cho Giơnuiy nghị hoà với triều đình Huế.
Để có áp lực với triều đình Huế, Giơnuiy đã cho tàu chiến bắn phá các pháo đài, thuyền buôn, tàu chiến của ta dọc theo bờ biển các tỉnh Bình Định, Quảng Bình, Quảng Trị. Nhưng do thái độ không dứt khoát của triều đình đánh không đánh mạnh, mà hoà cũng không ra hoà, cuối cùng việc hoà nghị không thành. Giơnuiy bị gọi về Pháp và đô đốc Page (Page) được cử sang thay. Sang tới nơi, lúc đầu Pagiơ táo bạo thí nghiệm lại kế hoạch cũ của Giơnuiy trước kia là dốc lực lượng đánh mạnh vào phía bắc vịnh Đà Nẵng để làm chủ con đường đèo Hải Vân, rồi đánh thẳng vào Huế. Nhưng một lần nữa, chúng lại bị đánh bại, số quân lính bị chết và bị thương lên tới 300 người. Thất bại trong âm mưu đánh vào Huế, Pagiơ quyết định rút dần quân vào Gia Định, đến cuối tháng 3 năm 1860, toàn bộ quân Pháp sau 19 tháng chiếm đóng Đà Nẵng đã rút hết về Gia Định.
TRẬN ĐẠI ĐỒN CHÍ HOÀ
Tại Gia Định, Pagiơ một mặt chủ động đưa ra các điều khoản nghị hoà với triều đình, mặt khác vẫn ráo riết chuẩn bị để thời cơ tới là nổ súng. Nhưng lần này cũng như lần trước, cuộc nghị hoà đã thất bại vì thai độ cố chấp của Triều Đình. Trong khi đó, giặc Pháp ở Gia Định ra sức mở rộng phạm vi chiếm đóng xung quanh thành, đánh chiếm Chợ Lớn, lập một phòng tuyến kéo dài từ chùa Khải Tường (gần Trường Thi) tới chùa Cây Mai (7/1860). Sau đó, phần lớn quân Pháp trên mặt trận Gia Định lại bị điều động sang mặt trận Hoa Bắc (Trung Quốc).
Sau khi liên minh với các nước tư bản Âu - Mĩ dùng vũ lực buộc phong kiến Trung Quốc phải kí điều ước Bắc Kinh (25/10/1860), mở thêm nhiều cửa bể, dành thêm nhiều thị trường cho thế lực tư bản nước ngoài trực tiếp xâm nhập Trung Quốc, tư bản Pháp đem toàn bộ hải quân ở Viễn Đông về Gia Định để xúc tiến việc xâm chiếm Nam Kì, để từ đó thôn tính Miên, Lào, Hoa Nam. Đạo quân xâm lược của địch tập trung trên sông Bến Nghé ngày mồng 7/2/1861 lên tới trên 4000 người với gần 50 chiến thuyền các loại. Đô đốc Leonard Charner (Léonard Victor Joseph Charner) được chính phủ Pháp giao cho toàn quyền tuyến chiến và kí hoà ước với Việt Nam. Lực lượng của triều đình ở Gia Định do Nguyễn Tri Phương chỉ huy hầu hết tập trung trong Đại đồn Phú Thọ (Chí Hoà), được xây dựng gấp rút để chặn đường tiến của địch.
Léonard Victor Joseph Charner (1797-1869) là một Đô đốc Hải quân Pháp. Ông là Tổng tư lệnh quân Pháp tham gia Chiến tranh Nha phiến lần hai và là Tổng tư lệnh liên quân viễn chinh Pháp - Tây Ban Nha xâm lược Nam Kỳ.
Léonard Victor Joseph Charner sinh ngày 13 tháng 2 năm 1797 trong một gia đình kiều dân Thụy Sĩ tại Saint-Brieuc. Tháng 2 năm 1812, ông vào học trường Hải quân Hoàng gia (L'école impériale de la Marine) tại Toulon và tốt nghiệp năm 1815 với cấp bậc Aspirant, tương đương Chuẩn úy.
Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia nhiều chiến dịch viễn chinh của Hải quân Pháp. Ông được thăng Trung úy Hải quân (Enseigne de vaisseau) năm 1820 và Đại úy Hải quân (Lieutenant de vaisseau) năm 1828. Năm 1837, với cấp bậc Thiếu tá Hải quân (Capitaine de corvette), ông là phó thuyền trưởng của tàu Belle Poule khi nó mang tro cốt của Napoleon I từ St Helena về Pháp.
Năm 1843, Đại tá Hải quân Charner tham gia hạm đội dưới quyền Đô đốc Jean-Baptiste Cécille được gửi đến vùng biển Trung Quốc để hỗ trợ Anh gây áp lực với triều đình nhà Thanh từ phía Nam.
Sau Cách mạng 1848, Charner được bầu làm phó tỉnh trưởng của Cotes-du-Nord và giữ chức vụ này đến năm 1851. Ngày 3 tháng 2 năm 1852, ông được thăng hàm Chuẩn đô đốc Hải quân (Contre-amiral) và làm tùy viên trong Văn phòng Bộ Hải quân của Bộ trưởng Théodore Ducos. Tháng 7 năm 1853, ông được bổ nhiệm làm phó chỉ huy trưởng của hạm đội viễn dương. Trong thời gian diễn ra chiến tranh Crimea, ông tham gia hoạt động tại Yalta và Sevastopol. Được thăng Phó đô đốc Hải quân (Vice-amiral) ngày 7 tháng 6 năm 1855, ông tham gia Hội đồng Công trình Hải quân (Conseil des Travaux de la Marine) với tư cách là một ủy viên từ 1858 đến 1860.
Ngày 4 tháng 2 năm 1860, Charner được cử làm Chỉ huy trưởng lực lượng hải quân tại vùng Viễn Đông, với quyền hạn lớn nhất của hải quân lớn nhất của Pháp kể từ Đế chế thứ nhất, chỉ huy lực lượng Hải quân Pháp tham gia vào Chiến tranh nha phiến lần hai tại Trung Quốc cho đến khi kết thúc năm 1861. Do công trạng này, ông được tặng thưởng Huân chương Bắc đẩu bội tinh đệ nhất đẳng vào ngày 10 tháng 2 năm 1861.
Từ ngày 6 tháng 2 đến 29 tháng 11 năm 1861, với tư cách là Tổng tư lệnh và đặc mệnh toàn quyền Nam Kỳ, ông là người tổ chức và chỉ huy cuộc xâm lược Nam Kỳ và biến thành thuộc địa của Pháp trước khi trở về Pháp vào cuối năm 1861.
Sau khi về Pháp, ông được bổ nhiệm Thượng nghị sĩ suốt đời vào ngày 12 tháng 2 năm 1862, và được thăng cấp bậc Đô đốc Pháp quốc (Amiral de France) ngày 15 tháng 11 năm 1864. Ông qua đời tại Paris ngày 7 tháng 2 năm 1869 và được chôn cất tại quê nhà Saint-Brieuc trong nghĩa trang St Michel.
Sau khi đã liên minh cùng với các nước tư bản Âu - Mĩ dùng vũ lực buộc phong kiến Trung Quốc phải kí điều ước Bắc Kinh (25/10/1860), mở thêm nhiều cửa bể, dành thêm nhiều thị trường cho thế lực tư bản nước ngoài trực tiếp xâm nhập Trung Quốc, tư bản Pháp đem toàn bộ hải quân ở Viễn Đông về Gia Định để xúc tiến việc xâm chiếm Nam Kì, để từ đó thôn tính Miên, Lào, Hoa Nam (Trung Quốc). Đạo quân xâm lược của địch tập trung trên sông Bến Nghé ngày 7/2/1861 đã lên tới trên 4000 người với gần 50 chiến thuyền các loại. Đô đốc Charner được Chính phủ Pháp giao cho toàn quyền tuyên chiến và kí hoà ước với Việt Nam. Lực lượng của triều Đình ở Gia Định do Nguyễn Tri Phương chỉ huy hầu hết tập trung trong Đại đồn Phú Thọ (Chí Hoà), được xây dựng gấp rút để chặn đường tiến của địch.
Trận Đại đồn Chí Hòa, hay còn được gọi là Trận Đại đồn Kỳ Hòa, là một trận đánh xảy ra tại Sài Gòn, Nam Kỳ vào 4 giờ sáng ngày 24 tháng 2 năm 1861, và đến khoảng 8 giờ tối ngày hôm sau thì kết thúc. Đại đồn do Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương trấn giữ đã bị quân Pháp chiếm mất. Sau lần đại bại này, triều đình nhà Nguyễn từ chủ trương "thủ để hòa" chuyển sang "chủ hòa", khiến cho đất đai của Đại Nam cứ mất dần vào tay thực dân Pháp.
Năm 1860, những rắc rối trong việc bang giao với Trung Quốc khiến chính phủ Anh và Pháp phải mở một cuộc viễn chinh mới tại quốc gia đó. Do vậy, tất cả lực lượng Pháp tại Viễn Đông liền được dùng vào cuộc chiến, nên không những quân Pháp phải triệt thoái khỏi Đà Nẵng mà tại Sài Gòn chỉ còn để lại một đội quân nhỏ (khoảng 800 người) lo việc phòng thủ.
Theo GS. Nguyễn Thế Anh thì khi đó, chính phủ Pháp đã muốn rút quân ra khỏi Việt Nam, nhưng khi nghe tướng Charles Rigault de Genouilly biện hộ và Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp là Chasseloup Laubat tán đồng, thì chính phủ Pháp liền thay đổi quyết định. Vì thế ngay khi hòa ước Bắc Kinh được ký kết ngày 25 tháng 10 năm 1860, vua nước Pháp là Napoléon III liền cử Đề đốc Léonard Charner thống lĩnh toàn bộ quân Pháp ở Viễn Đông, để hoàn thành nhanh việc chiếm cứ Nam Kỳ. Và mục tiêu đầu tiên của viên tướng này là phải tấn công Đại đồn Chí Hòa, vì đây là một vật cản lớn cần phải phá bỏ để có thể tiến chiếm các nơi khác...
Lúc ấy, ngay khi nhậm chức ở Nam Kỳ, Nguyễn Tri Phương đã cho người dò la. Biết rõ đối với súng đạn có sức tàn phá rất mãnh liệt của người Pháp, quân Việt dù đông, dù can đảm tới đâu cũng không thể giáp chiến được, ông lựa chọn chiến lược nửa công nửa thủ, tức dựng chiến lũy để bảo vệ quân Việt Nam khỏi súng địch và bao vây dần quân Pháp. Ông truyền lệnh xây nhiều pháo đài và đắp lũy ở phía Bắc Sài Gòn.
Quân Pháp bị vây chặt tới nỗi trong 6 tháng liền không nhận được tin tức gì từ Pháp. Tuy có đôi lần quân Việt giành được thắng lợi, nhưng cũng không thể diệt nổi quân Pháp là vì súng đạn họ tinh xảo và bắn được xa hơn.
Lực lượng hai bên Pháp và Việt Nam
Về phía Pháp Theo Trần Văn Giàu, tính chung đội quân viễn chinh vừa kể trên với số quân có sẵn tại Sài Gòn khoảng 800 người, thì lực lượng của Pháp chỉ có khoảng 5.000 quân với khoảng 50 chiến thuyền các loại.
Về phía Việt Nam Phía Pháp (theo Léopold Pallu) nói ở Chí Hòa, quân Việt có tới 21.000 quân chính quy, 10.000 quân Đồn điền và ở Biên Hòa có 15.000 quân từ miền Trung vào. Nhưng theo GS. Trần Văn Giàu, chắc quân chính quy không đông như thế. Vì khi Pháp đánh Đà Nẵng, gần sát kinh đô mà quân triều đình ở đó chỉ có 3.200 người, thì ở Gia Định xa xăm, không thể có hơn 2 vạn được. Dân quân thì đông, chắc chắn như vậy. Sở dĩ Pháp "tăng" số quân của Nguyễn Tri Phương, trước hết là để tăng giá trị trận đánh của họ.
Kế hoạch tấn công của Pháp.
Kế hoạch hành binh của Pháp Theo GS. Trần Văn Giàu, kế hoạch hành binh của quân Pháp như sau: Dàn đại bác theo phòng tuyến các chùa, chiến thuyền đậu từ sông Rạch Cát qua sông Bến Nghé và sông Thị Nghè, tất cả đều nhắm vào Đại đồn. Đại quân bộ sẽ từ chùa Cây Mai đánh bọc phía tây nam, là phía yếu nhất của Đại đồn, cắt đứt Đại đồn với kho lương ở Thuận Kiều, và dồn quân Việt chạy về phía sông Gò Vấp để chặn đánh. Bố trí chiến thuyền ngăn viện binh từ Biên Hòa xuống, và ngăn quân Việt rút chạy lên đó. Thủy quân ở cánh đông bắc cùng bộ binh ở cánh tây nam sẽ bao vây và tiêu diệt đại quân Việt trong khoảng giữa ba sông, là Thị Nghè, Gò Vấp và Bến Nghé. Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu, sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của tướng Leonard Charner và là người trực tiếp tham dự trận đánh, sau này đã kể lại trong sách của mình đại để như sau: Mấy ngày trước khi giao chiến, Đề đốc Hải quân Leonard Charner đã giao cho Đại úy Hải quân De Surville điều khiển các chiến hạm neo dọc sông Sài Gòn. Trung tá Crouzat thì được lệnh tìm đường tiến quân, và sau khi tìm được lối đi phía bên trái đồn Cây Mai đã cho hai đại đội lính đến san phẳng, dưới hỏa lực của quân đối phương. Trên bộ, các đội lính viễn chinh khác bố trí dọc theo sông Đồng Nai để cầm chân quân Việt... Sau khi tất cả các cánh quân đã được bố trí xong, vị Tổng tư lệnh là tướng Charner liền quyết định thời điểm tấn công Đại đồn Chí Hòa là ngày 24 tháng 2 năm 1861.
Sau mấy tuần chuẩn bị và sau khi nghe Đại tá Crouzat phúc trình công tác thám thính Đại đồn xong, 4 giờ sáng ngày 24 tháng 2 năm 1861, được lệnh của Đề đốc Charner, đại bác của Pháp từ "phòng tuyến các chùa" và trên các tàu đều nhắm vào Đại đồn Chí Hòa mà bắn. Đại bác của quân Việt từ Đại đồn rộ lên đáp trả. Hai bên đánh nhau bằng đại bác tới sáng.
Từ vùng chùa Cây Mai, Đề đốc Charner, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca (Tây Ban Nha) dẫn quân tiến lên cùng với pháo nhẹ. Quân Việt trong đồn Hữu bắn cản lại. De Vassoigne và Palanca đều bị thương. Đại bác Pháp liền bắn khoảng 500 phát vào đồn Hữu, rồi cho bộ binh tấn công chiếm đồn. Phía Việt cho voi xông ra ứng chiến, nhưng đội quân voi tỏ ra không mấy hiệu quả trước đại bác, súng trường...
Hai bên đánh nhau đến tối, nhưng Pháp chỉ mới tiến được một cây số, còn hai cây số nữa mới đến được Đại đồn. Đêm đến, hai bên đều ngưng chiến. Năm giờ sáng hôm sau, quân Pháp tràn lên tấn công, xáp được gần Đại đồn. Song cách vách thành trăm thước thì gặp rất nhiều cạm bẫy, hào ụ, nên tiến rất chậm. Quân Pháp lúc này bị bắn chết và bị thương rất nhiều.
Tuy vậy, quân Pháp vẫn quyết dùng thang và đứng trên vai nhau mà trèo lên vách đồn. Trên đồn và trong các lỗ châu mai, quân Việt bắn chém dữ dội. Phần lớn các thang tre của Pháp vác theo đều bị đánh gãy, nhưng cuối cùng vẫn có một số lính Pháp vào được Đại đồn. Hai bên xông vào đánh giáp lá cà, giành giật nhau từng khu vực một.
Chống chọi được một lúc, tướng Nguyễn Tri Phương bị mảnh đại bác trúng bụng, phải ra lệnh rút quân về đồn Thuận Kiều. Ngày 28 tháng 2, Pháp tấn công Thuận Kiều, Đại tá Crouzat bị thương, nhưng quan quân phải bỏ đồn Thuận Kiều, bỏ cả đồn Tây Thới mà chạy tán loạn về Biên Hòa, mất hầu hết khí giới và lương thực. Riêng Trương Định rút về Gò Công tiếp tục kháng Pháp...
4 Giờ sáng ngày 24/2/1861, giặc Pháp bắt đầu nổ súng công kích Đại Đồn. Chúng tiên quân rất chậm, phần vì hoả lực khá mạnh của quan quân triều đình từ trong thành bắn ra, phần vì vấp phải hệ thống hào luỹ bảo vệ mặt ngoài thành. Cuộc chiến đấu diễn ra khá ác liệt suốt trong hai ngày liền. Cuối cùng, Nguyễn Tri Phương ra lệnh bỏ thành chạy về đồn Thuận Kiều ở sau lưng Đại Đồn để cố thủ. Nhưng ngày 28, địch tấn công chiếm luôn đồn Thuận Kiều, quan quân triều đình phải lui về Biên Hoà. Sau đó, giặc Pháp thừa thắng mở rộng phạm vi chiếm đóng, lần lượt đánh chiếm Định Tường (12/4/1861), Biên Hoà (16/12/1861), Vĩnh Long (23/3/1862).
Nhận được tin Đại đồn thất thủ, triều đình nhà Nguyễn tức tốc phái Nguyễn Bá Nghi mang 4.000 quân vào chi viện. Nhưng viên tướng này, chỉ đến Biên Hòa thì cho dừng quân lại, cử người đi tìm gặp Đề đốc Charner để xin được nghị hòa và tâu về Huế rằng: Việc nước ta ngày nay, trừ một chước hòa không có chước nào khác. Hòa thì không ổn rồi, nhưng trông mong sự khôi phục về sau...
Chiến thuật chiến lược sai lầm đó tát nhiên dẫn triều đình Huế tới chuỗi thất bại. Cuối cùng, để cứu vãn quyền lợi của giai cấp, đứng trước nguy cơ xâm lược ở bên ngoài và nguy cơ khởi nghĩa nông dân bên trong, phong kiến Triều Nguyễn đã kí kết hoà ước Nhâm Tuất Ngày 5/6/1862, nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho giặc Pháp.
Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862
Khi Đại đồn thất thủ, triều đình lập tức cho ông Nguyễn Bá Nghi làm Khâm sai Đại thần thay Nguyễn Tri Phương. Bá Nghi thấy thế không chống đỡ nổi với quân Pháp nên gởi tấu về xin giảng hòa. Trong lúc này, Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard thay thế Charner vẫn tiếp tục cho quân Pháp chiếm thêm Biên Hòa và Bà Rịa tháng 12 năm 1861, Vĩnh Long tháng 3 năm 1862. Triều đình phải cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp tới giảng hòa và miễn cưỡng chịu ký hiệp ước nhường 3 tỉnh miền Đông với đảo Côn Lôn cho quân Pháp và phải bồi thường chiến phí 4.000.000 đồng bạc trong 10 năm cùng việc mở cửa thông thương ở Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.
Theo sử liệu thì nguyên nhân triều đình Tự Đức phải ký kết hiệp ước là vì lúc đó ở Bắc Kỳ có các cuộc nổi dậy đang đánh phá dữ dội (đáng kể nhất là của: Tạ Văn Phụng và Cai Tổng Vàng, Nông Hùng Thạc)...mà trong Nam Kỳ thì thực dân Pháp đã đánh chiếm được bốn tỉnh là: Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long. Sau khi so sánh hai mối nguy, triều đình Tự Đức bèn sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Sài Gòn giảng hòa với thực dân, để có thể đưa đại quân ra tiêu diệt các cuộc nổi dậy ở đất Bắc đang uy hiếp ngai vàng của dòng họ Nguyễn.
Giữa lúc quân Pháp không ngờ nhất, thì thiếu tá Simon đang công tác ở ngoài khơi Trung Kỳ trở về Sài Gòn báo tin là vua Tự Đức vừa đề nghị mở cuộc giảng hòa. Tháng 4 năm Nhâm Tuất, đô đốc Bonard liền phái Simon mang chiến hạm Forbin có bố trí đại bác, ba chiếc thuyền gỗ cùng 200 lính đến cửa Thuận An (Huế), để đưa ra ba yêu sách là: Gửi sứ thần có thẩm quyền quyết định vào Gia Định, bồi thường chiến phí và phải nạp trước 100.000 Franc để đảm bảo thiện chí cầu hòa.
Theo G. Taboulet thì tàu Forbin đưa sứ bộ rời Huế vào ngày 28 tháng 5 năm 1862, đến Sài Gòn vào ngày 3 tháng 6 năm 1862, qua ngày 5 tháng 6 năm 1862 (9 tháng 5 âm lịch năm Nhâm Tuất) thì hai bên ký bản hòa ước trên tàu chiến Duperré của Pháp đậu ở bến Sài Gòn.
Ký hòa ước xong, triều đình phái Phan Thanh Giản làm tổng đốc Vĩnh Long, Lâm Duy Hiệp làm tuần phủ Khánh Thuận, để giao thiệp với các quan nước Pháp ở Gia Định.
Tháng 2 năm Quý Hợi (1863), thiếu tướng Bonard và đại tá Palanca ra Huế gặp vua Tự Đức để công nhận sự giảng hòa của ba nước. Xong rồi thiếu tướng Bonard về Pháp nghỉ, Chuẩn đô đốc La Grandière sang thay.
Bấy giờ nước Tây Ban Nha cũng nhường quyền lấy đất làm thuộc địa cho nước Pháp, chỉ nhận tiền binh phí và quyền được cho giáo sĩ đi giảng đạo mà thôi.
Hòa ước Nhâm Tuất là hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên giữa Đại Nam và Đế quốc Pháp, theo đó Nhà Nguyễn phải cắt nhượng lãnh thổ 3 tỉnh Nam Kỳ gồm Biên Hòa, Gia Định, và Định Tường cho Pháp.
Hiệp ước được ký ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn giữa đại diện triều Nguyễn (thời vua Tự Đức) là chánh sứ Phan Thanh Giản và phó sứ Lâm Duy Hiệp (hay Thiếp) với đại diện của Pháp là thiếu tướng Bonard và đại diện của Tây Ban Nha là đại tá Don Carlos.
Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) gồm 12 điều, hai nội dung quan trọng và nặng nề nhất là triều đình Huế phải nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam kỳ và Côn Đảo với tất cả chủ quyền (điều 3), và bồi thường chiến phí với số tiền lên đến 4 triệu franc Pháp (tương đương 2.880.000 lạng bạc) trong vòng 10 năm (điều 8). Đây chính là hòa ước bất bình đẳng "đầu tiên" của Việt Nam ký với Pháp, mở đầu cho "cuốn vong quốc sử Việt Nam" từ nửa đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trong lịch sử Việt Nam.
Nội dung Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862
Hòa ước Nhâm Tuất có 12 khoản, trừ các điều khoản có tính cách ngoại giao, thì 9 khoản sau đây được coi là quan trọng hơn cả:
Khoản 1: Từ nay về sau, hòa bình sẽ mãi mãi được thiết lập giữa một bên là Hoàng đế Pháp và Nữ hoàng Tây Ban Nha và một bên là Hoàng đế Đại Nam. Tình hữu nghị toàn diện và lâu bền cũng sẽ được thiết lập giữa thần dân ba nước dù họ ở bất cứ nơi đâu.
Khoản 2: Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành đạo Gia Tô ở nước Đại Nam, và bất luận người nước Đại Nam ai muốn theo đạo Gia Tô, đều sẽ được tự do theo, nhưng những người không muốn theo đạo Gia Tô thì không được ép họ theo.
Khoản 3: Chủ quyền trọn ba tỉnh là Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường, cũng như đảo Côn Lôn, do hiệp ước này, được hoàn toàn nhượng cho hoàng đế nước Pháp. Ngoài ra, các thương gia Pháp được tự do buôn bán và đi lại bằng bất cứ tàu bè nào trên sông lớn của xứ Cam Bốt và trên tất cả các chi lưu của con sông này; các tàu binh Pháp được phép đi xem xét trên con sông này hay trên các chi lưu của nó cũng được tự do như vậy.
Khoản 4: Sau khi đã nghị hòa, nếu có nước ngoài nào muốn, bằng cách gây sự hoặc bằng một hiệp ước giành lấy một phần lãnh thổ của nước Đại Nam, thì hoàng đế nước Đại Nam sẽ báo cho hoàng đế nước Pháp biết bằng một sứ thần,.. để hoàng đế nước Pháp được hoàn toàn tự do đến tiếp cứu nước Đại Nam hay không. Nhưng, nếu trong hiệp ước với nước ngoài nói trên, có vấn đề nhượng địa, thì sự nhượng địa này có thể được thừa nhận nếu có sự ưng thuận của hoàng đế nước Pháp.
Khoản 5: Người các nước Pháp và Tây Ban Nha được tự do buôn bán tại ba hải cảng là Tourane (Đà Nẵng), Ba La (Ba Lạt) và Quảng Yên. Người nước Đại Nam cũng được tự do buôn bán tại các hải cảng của nước Pháp và Tây Ban Nha như vậy, nhưng phải theo thể thức luật định...
Khoản 8: Hoàng đế nước Đại Nam sẽ phải bồi thường một số tiền là bốn triệu franc, trả trong 10 năm. Vì nước Đại Nam không có tiền franc sẽ được tính bằng 72% lạng bạc.
Khoản 9: Nếu có cướp bóc, giặc biển hoặc kẻ gây rối người nước Nam nào, phạm tội cướp bóc hoặc gây rối trên các đất thuộc Pháp, hoặc nếu có người Âu Châu phạm tội nào đó, lẩn trốn trên đất thuộc nước Nam thì ngay khi nhà nước Pháp thông tri cho nhà chức trách Đại Nam, giới chức này phải cố gắng bắt giữ thủ phạm để giao nộp cho nhà chức trách Pháp. Vấn đề cướp bóc, giặc biển hay quân phiến động nước Nam sau khi phạm tội, lẩn trốn trên đất thuộc Pháp, cũng sẽ được xử như vậy.
Khoản 10: Dân chúng ba tỉnh là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên sẽ được tự do buôn bán trong ba tỉnh thuộc Pháp miễn tuân theo luật lệ hiện hành, nhưng những đoàn tàu chở binh lính, vũ khí, đạn dược hay lương thực giữa ba tỉnh nói trên và Nam Kỳ chỉ được thực hiện bằng đường biển. Tuy nhiên, hoàng đế nước Pháp thuận cho các đoàn tàu chở các thứ trên vào Cam Bốt được có cửa khẩu là lạch Mỹ Tho (Định Tường), gọi là Cửa Tiền, song với điều kiện là các giới chức Đại Nam phải báo trước cho đại diện của hoàng đế nước Pháp, vị đại diện này sẽ trao cho họ một giấy thông hành. Nếu thể thức này không được tuân theo, và một đoàn vận tải như vậy nhập nội mà không có giấy phép thì đoàn đó và những gì hợp thành đoàn đó sẽ bị bắt giữ và các đồ vật sẽ bị phá hủy.
Khoản 11: Thành Vĩnh Long sẽ được binh lính (Pháp) canh gác cho đến khi có lệnh mới mà không ngăn cản bằng bất cứ cách nào hoạt động của các quan Đại Nam. Thành này sẽ được trao trả cho hoàng đế nước Đại Nam ngay khi Ngài đình chỉ cuộc chiến loạn do lệnh Ngài tại các tỉnh Gia Định và Định Tường, và khi những người cầm đầu cuộc phiến loạn này ra đi và xứ sở được yên tĩnh và quy phục như trong một xứ bình yên.

.jpg)

0 comments:
Post a Comment